Bối cảnh: Nam Kỳ thời Pháp thuộc và phong trào chấn hưng
Người Việt (người Kinh) vốn theo Phật giáo Bắc tông từ hàng nghìn năm. Vì sao đến thế kỷ XX lại có người Kinh theo Theravāda?
Từ năm 1867, Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp; nhiều người Việt sang Campuchia, Lào sinh sống. Dưới chính sách bảo hộ, các tổ chức Phật giáo Việt Nam chỉ được công nhận là hội đoàn, không phải giáo hội. Phong trào chấn hưng Phật giáo lan rộng: Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (Sài Gòn, 1930), Hội An Nam Phật học (Huế, 1932), Hội Phật giáo Bắc Kỳ (Hà Nội, 1934) — đều do cư sĩ làm hội trưởng.
Tỳ-khưu Định Phúc nhắc lại truyền thống cho rằng mầm mống Phật giáo nước ta có liên hệ với phái đoàn Soṇa – Uttara đến Suvaṇṇabhūmi; “tuy nhiên, vì nhiều lý do”, Theravāda không tồn tại lâu, nhường chỗ cho ảnh hưởng Trung Hoa — “mãi cho đến năm 1938”, Theravāda mới “một lần nữa được du nhập vào Việt Nam từ vương quốc Campuchia láng giềng”.
Việc gắn Phật giáo Việt Nam thời đầu với phái đoàn Soṇa – Uttara là một giả thuyết, chưa có chứng cứ trực tiếp (xem cuộc tranh luận về Suvaṇṇabhūmi ở Chương 2 · Bài 2). Điều chắc chắn là: dòng Nam tông Kinh hôm nay bắt đầu từ những năm 1930, qua Việt kiều ở Campuchia.
Hội Phật học An Nam ở Phnom Penh (1935)
Ngôi nhà đầu tiên của Phật giáo Nam tông người Việt không ở Việt Nam, mà ở Phnom Penh.
Theo Giác Trí; Đỗ Cao Phúc (dẫn Thích Giới Đức, 2011).
Mỗi thứ Bảy, Chủ nhật, hội viên về chùa tụng kinh, hành thiền; hội mở lớp tiếng Việt cho trẻ em sinh ở Campuchia. Hội xuất bản tạp chí Ánh Sáng Phật Pháp (20 số, bằng tiếng Việt). Tháng 3/1936, chùa Sùng Phước được cải thành tu viện Theravāda và gia nhập Giáo hội Phật giáo Campuchia — trở thành “điểm hoằng pháp Phật giáo Nguyên thủy đầu tiên của người Việt tại Campuchia”.
Nhiều kinh văn tiếng Campuchia được dịch sang tiếng Việt. Bài Kinh Sám hối theo lối văn vần do ông Phán Long chấp bút “đã lưu hành rộng rãi trong các chùa Nguyên thủy đến ngày nay”, nhiều chùa Khất sĩ cũng dùng.
Sinh ở Tân Châu, Châu Đốc; 16 tuổi theo gia đình sang Nam Vang; tốt nghiệp Cao đẳng Thú y Đông Dương (Hà Nội), làm y sĩ thú y ở Siem Reap, Svay Rieng, Phnom Penh. Sau này là Hòa thượng Hộ Tông.
Sinh ở Cần Thơ; kỹ sư công chánh, về sau là Giám đốc Hỏa xa miền Nam. Cuối năm 1930, đọc cuốn La Sagesse du Bouddha (Tuệ giác của Phật), ông phát nguyện truyền bá Phật giáo Nguyên thủy.
Tiểu sử theo Đỗ Cao Phúc, dẫn Thiện Hậu (2017) và Thích Đồng Bổn (2020).
Bốn vị Tăng người Việt đầu tiên
Cả bốn vị đều xuất gia ở Campuchia, trong Tăng đoàn Khmer — rồi trở về hoằng pháp cho người Việt.
| Thế danh | Pháp danh | Xuất gia |
|---|---|---|
| Ngô Bảo Hộ | Thiện Luật | Sa-di năm 1934 (chùa Prek Reng), Tỳ-khưu năm 1937 |
| Hồ Văn Viên | Huệ Nghiêm | Năm 1938 |
| Phạm Văn Tông | Bửu Chơn | Ngày 19/7/1940 |
| Lê Văn Giảng | Hộ Tông (Vaṃsarakkhita) | Ngày 15/10/1940, thầy truyền giới là Hòa thượng Chuon Nath |
Theo Đỗ Cao Phúc (dẫn Thiện Hậu, 2017, tr. 26 – 27); Giác Trí; Lê Lâm Huỳnh Thông.
Định Phúc gọi Thiện Luật, Huệ Nghiêm, Hộ Tông là “ba vị trí thức người Việt xuất gia đầu tiên”; Đỗ Cao Phúc thêm Bửu Chơn thành “bốn vị cao tăng đầu tiên”. Cả hai cách đếm đều đúng theo góc nhìn của mỗi người — điều quan trọng là ghi rõ ai đếm và đếm thế nào.
Chùa Bửu Quang và lễ kết giới Sīmā
Một ngôi chùa Theravāda chỉ trọn vẹn khi có Sīmā — ranh giới được kết đúng Luật để Tăng đoàn làm các Tăng sự như truyền giới. Đó là lý do lễ kết giới ở Bửu Quang là cột mốc khai sinh hệ phái.
Nhóm cư sĩ chia việc: ông Hiểu tìm đất dựng chùa, cụ Văn Công Hương in kinh sách, ông Giảng khảo cứu, dịch kinh. Đất ở Gò Dưa, Thủ Đức (hơn hai mẫu) do gia đình ông Bùi Ngươn Hứa hiến cúng. Rằm tháng 10/1938: lễ an vị Phật.
Tháng 4/1939, Tỳ-khưu Thiện Luật tổ chức quy y cho ông Nguyễn Văn Hiểu, gia đình chủ đất và nhiều người khác. Chùa có chánh điện và tám liêu cốc nhà sàn kiểu Campuchia.
Hòa thượng Samdech Chuon Nath, Đệ nhị Tăng thống Campuchia, cùng 30 vị Tỳ-khưu Khmer sang chứng minh; chùa được đặt tên Bửu Quang (Ratanaraṃsyārāma).
Theo Định Phúc; Đỗ Cao Phúc; Nguyễn Ngọc Hùng & Nguyễn Thị Thanh Mai (dẫn tiểu sử viết tay của ông Nguyễn Văn Hiểu, 1979).
Một năm hay hai năm? Ba bài trong kỷ yếu ghi lễ kết giới ngày 15/4/1940; một bài khác ghi “năm 1939”. Ai có mặt? Đỗ Cao Phúc kể trong đoàn có “Hòa thượng Hộ Tông” — nhưng chính các nguồn cho biết ông Lê Văn Giảng xuất gia ngày 15/10/1940, tức sáu tháng sau. Có lẽ người viết dùng pháp danh về sau để gọi ông. Đây là lỗi rất thường gặp: gọi nhân vật bằng danh xưng của một thời điểm muộn hơn.
Năm 1940, cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ; chùa Bửu Quang bị ảnh hưởng nặng, ông Hiểu phải dùng một nửa số tiền bán nhà của mình để trùng tu. Lần xây thứ hai có mái ngói, kiến trúc giao thoa Khmer – Tây phương – Trung Hoa.
Lan rộng và bốn dòng truyền thừa
Từ Bửu Quang, hệ phái lan ra Sài Gòn – Chợ Lớn, miền Trung, Tây Nguyên — và mở rộng quan hệ ra khắp thế giới Theravāda.
| Năm | Sự kiện |
|---|---|
| 1941 | Cô Lê Thị Tư xuất gia, pháp danh Diệu Đáng — tu nữ đầu tiên của Phật giáo Nam tông Kinh |
| 1945 | Ông Dương Văn Thêm xuất gia (Tỳ-khưu Giác Quang), lập chùa Giác Quang ở Bình Đông, Chợ Lớn — ngôi chùa thứ hai |
| 1949 – 1950 | Ngài Hộ Tông cùng ông Hiểu xây dựng chùa Kỳ Viên (Bàn Cờ), trở thành trung tâm của hệ phái; trùng tu năm 1954 |
| 1952 | Tu nữ Diệu Đáng du học Miến Điện; Thầy Hộ Nhẫn sang Miến Điện thọ giới |
| 1953 | Tỳ-khưu Giới Nghiêm cùng Phật tử dựng Tổ đình Tam Bảo, Đà Nẵng |
| 1954 | HT. Bửu Chơn, Hộ Nhẫn, Hộ Giác, Giới Nghiêm dự Kỳ kết tập thứ sáu ở Rangoon |
| 1956 | Tăng Quang Tự ở Huế (“chùa Áo Vàng”) được xây dựng, mở rộng |
Theo Giác Trí; Định Phúc; Nguyễn Ngọc Hùng & Nguyễn Thị Thanh Mai.
Bốn dòng truyền thừa
Theo TT. Thích Giác Trí, Phật giáo Nam tông Kinh “được truyền thừa bởi 04 dòng Phật giáo Nguyên thủy từ các quốc gia”:
Hãy nhớ lại các Chương 5 – 6: Theravāda Campuchia, Thái Lan, Miến Điện đều có gốc Mahāvihāra của Tích Lan. Vì vậy, dù về Việt Nam qua bốn ngả, cả bốn dòng đều chung một cội. Phật giáo Nam tông Kinh là nơi hiếm hoi bốn dòng ấy gặp nhau trong một hệ phái.
Thành lập hội cư sĩ và Giáo hội Tăng già Nguyên thủy
Sau năm 1954, hệ phái lần lượt có tổ chức cư sĩ (hội) và tổ chức Tăng (giáo hội).
Ngày 21/10/1955, Nghị định số 3716 cho phép hội thành lập, trụ sở chùa Tam Bảo, Đà Nẵng; Điều lệ 9 chương 19 điều; hội “không tham gia vào công việc có tánh cách chính trị”.
Được phép hoạt động ngày 14/5/1957 theo Đạo dụ số 10; trụ sở tạm tại chùa Kỳ Viên, 610 Phan Đình Phùng.
Rằm tháng Giêng 1957, tại chùa Kỳ Viên, 22 vị Tỳ-khưu bỏ phiếu kín bầu Ban Chưởng quản lâm thời 7 vị; nộp đơn ngày 20/2/1957, được Bộ Nội vụ chấp thuận ngày 18/12/1957. Phiên họp đầu tiên suy cử HT. Hộ Tông làm Tăng thống.
Theo Giác Trí; Nguyễn Ngọc Hùng & Nguyễn Thị Thanh Mai.
Điều lệ quy định: thành viên Ban Chưởng quản phải có quốc tịch Việt Nam, thông thạo tiếng Việt; kinh văn đọc tụng phải là tiếng Việt và tiếng Pāḷi. Giáo hội lập các ban Giám luật, Giáo dục, Nghi lễ, Thiền định, Hoằng pháp, Phiên dịch – ấn tống.
Đa số bài (Giác Trí, Định Phúc, Nguyễn Ngọc Hùng) ghi Giáo hội thành lập năm 1957; một bài trích tiểu sử Ngài Hộ Tông lại ghi 1958. Có thể năm 1958 là lúc Giáo hội chính thức hoạt động sau khi được duyệt vào cuối năm 1957. Tên gọi của hệ phái cũng đổi theo thời: “Đạo Phật Thích Ca” (1938 – 1952), “Theravāda – Phật giáo Nguyên thủy” (1952 – 1957), “Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam” (1957 – 1964) — theo Nguyễn Ngọc Hùng & Nguyễn Thị Thanh Mai.
Biến động và thống nhất (1963 – 1981)
Các HT. Hộ Giác, Pháp Tri, Giới Nghiêm, Bửu Chơn, Bửu Phương tham gia phong trào Phật giáo miền Nam đòi tự do, bình đẳng tôn giáo. Theo Giác Trí, khi bị bắt giam chung, HT. Hộ Giác đã đổi y cà-sa cho HT. Trí Quang mặc để Ngài được thả ra.
Phái đoàn Nguyên thủy do HT. Giới Nghiêm dẫn đầu dự đại hội thống nhất; HT. Thiện Luật được suy tôn Phó Tăng thống; TT. Pháp Tri làm Phó Viện trưởng Viện Hóa đạo.
Do bất đồng về điều hành và giới luật theo truyền thống Nguyên thủy, hệ phái rút ra, tiếp tục sinh hoạt theo truyền thống riêng (Giác Trí).
Phái đoàn do HT. Bửu Chơn dẫn đầu — xem Bài 1 · Phần 6. Bốn mươi năm sau khi người Việt thọ giới ở Campuchia, chư Tăng Việt Nam lại góp phần truyền giới cho Campuchia.
HT. Giới Nghiêm, Bửu Chơn, Siêu Việt, Thiện Tâm tham gia Ban liên lạc Phật giáo yêu nước, vận động 9 tổ chức, hệ phái thống nhất thành lập GHPGVN ngày 7/11/1981 tại Hà Nội.
Theo Giác Trí.
Câu chuyện đổi y năm 1963 được kể trong bài của Giác Trí; khi dùng, nên ghi “theo lời kể của…”, vì đây là chi tiết truyền khẩu trong hệ phái, chưa thấy văn bản đương thời xác nhận.
Kinh điển, giáo dục và hệ phái hôm nay
Đóng góp lớn nhất của Phật giáo Nam tông Kinh có lẽ là đưa Tam tạng Pāḷi đến với người đọc tiếng Việt.
Ông Nguyễn Văn Hiểu (Chọn đường tu Phật), HT. Hộ Tông (Kinh Lễ bái Tam bảo), HT. Bửu Chơn, HT. Giới Nghiêm (Pháp hành Tứ niệm xứ, Mi Tiên vấn đáp), HT. Tịnh Sự (A-tỳ-đàm), HT. Hộ Giác (Văn phạm Pāḷi)… (Giác Trí).
Theo Định Phúc: năm bộ Nikāya do HT. Thích Minh Châu dịch; Tạng Luật và các tập còn lại của Tiểu bộ do Tỳ-khưu Indacanda dịch, in song ngữ Pāḷi – Việt; Tạng Vi Diệu Pháp do HT. Tịnh Sự dịch.
Các Phật học viện Phật Bảo, Pháp Quang, Giác Quang, Giảng đường Siêu Lý; tạp chí Ánh Sáng Phật Pháp (1935), nhật báo Bát Chánh Đạo (1963), Chuyển Pháp Luân (1980), Pháp Luân (1981) (Giác Trí).
Hôm nay: hai nguồn, hai bộ số
| Nguồn | Chùa | Tu sĩ | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Ban Tăng sự Trung ương (2019), dẫn theo Định Phúc | 106 tự viện | 1.000 tu sĩ và 654 tu nữ | Khoảng 3,2% tu sĩ, 0,57% tự viện cả nước |
| Tài liệu hệ phái (2020), dẫn theo Giác Trí | Khoảng 145 chùa (4 chùa tu nữ, 7 thiền viện) | Trên 900 vị (450 Tỳ-khưu, 90 Sa-di, 450 tu nữ) | Hơn 50.000 Phật tử; năm 1975 chỉ có khoảng 30 chùa |
Hai nguồn cách nhau một năm mà số chùa lệch gần 40, số tu nữ lệch 200. Có thể do cách tính (chùa đã đăng ký với Giáo hội hay mọi cơ sở; có tính tịnh thất, thiền viện không). Chỉ cần nói: “khoảng 100 – 150 chùa và gần một nghìn tu sĩ, theo các nguồn năm 2019 – 2020”.
Tỳ-khưu Định Phúc nêu những khó khăn: chư Tăng, tu nữ Nam tông Kinh xuất gia, thọ giới theo truyền thống riêng nên khó được cấp chứng điệp nếu không dự giới đàn chung; đề thi giới đàn phần nhiều theo giáo lý Bắc tông; ít vị được đề bạt vào các cấp Giáo hội, thiếu thế hệ kế thừa.
Dòng thời gian của bài
Hơn tám mươi năm của Phật giáo Nam tông Kinh, theo các bài trong kỷ yếu 2021.
Phong trào chấn hưng: các hội Phật học ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội; ông Nguyễn Văn Hiểu đọc La Sagesse du Bouddha.
Hội Phật học An Nam ra đời ở Phnom Penh, chùa Sùng Phước.
Thiện Luật, Huệ Nghiêm, Bửu Chơn, Hộ Tông xuất gia ở Campuchia.
Dựng chùa ở Gò Dưa, Thủ Đức; kết giới Sīmā, chùa Bửu Quang ra đời.
Tu nữ Diệu Đáng; chùa Giác Quang, Kỳ Viên, Tam Bảo, Tăng Quang; dự Kỳ kết tập thứ sáu.
Hội cư sĩ ở Đà Nẵng và Sài Gòn; Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, Tăng thống Hộ Tông.
Vận động 1963; GHPGVNTN (1964), rút ra (1969); sang Campuchia (1979); GHPGVN (7/11/1981).
Khoảng 100 – 150 chùa, gần một nghìn tu sĩ; Tam tạng Pāḷi đã có bản tiếng Việt.
Thẻ ghi nhớ, trắc nghiệm & tự kiểm tra
Thẻ ghi nhớ — bấm để lật
Luyện tập — ngân hàng câu hỏi
Sáu dạng câu tự chấm điểm: trắc nghiệm, đúng/sai, chọn nhiều, điền từ, nối cặp, sắp xếp. Câu làm sai được ghi lại để ôn riêng.
Câu hỏi tư duy & tra cứu
Những câu cần suy nghĩ hoặc tự tra nguồn gốc (có gợi ý và link). Hãy viết câu trả lời của bạn trước, rồi mới mở đáp án tham khảo.
Tự kiểm tra — trả lời trước, rồi mở gợi ý
1Phật giáo Nam tông Kinh hình thành trong bối cảnh nào?
Nam Kỳ thời Pháp thuộc (từ 1867), nhiều người Việt sang Campuchia sinh sống; phong trào chấn hưng Phật giáo những năm 1930, các tổ chức Phật giáo chỉ được là hội đoàn do cư sĩ làm hội trưởng; trí thức như Lê Văn Giảng, Nguyễn Văn Hiểu tiếp xúc với Theravāda ở Campuchia và qua sách Pháp ngữ. Năm 1935 lập Hội Phật học An Nam ở Phnom Penh; năm 1938 dựng chùa ở Thủ Đức.
2Kể tên bốn vị Tăng người Việt đầu tiên và năm xuất gia.
Thiện Luật (Ngô Bảo Hộ; sa-di 1934, tỳ-khưu 1937), Huệ Nghiêm (Hồ Văn Viên; 1938), Bửu Chơn (Phạm Văn Tông; 19/7/1940), Hộ Tông (Lê Văn Giảng; 15/10/1940, thầy truyền giới HT. Chuon Nath). Cả bốn xuất gia ở Campuchia.
3Vì sao lễ kết giới Sīmā năm 1940 là mốc khai sinh hệ phái?
Vì theo Luật, Tăng đoàn chỉ làm được các Tăng sự (truyền giới, bố-tát…) trong một Sīmā kết đúng phép. Lễ ngày 15/4/1940 ở chùa Bửu Quang do HT. Chuon Nath, Đệ nhị Tăng thống Campuchia, cùng 30 Tỳ-khưu Khmer chứng minh, giúp Phật giáo Nam tông Kinh có “ngôi nhà” đủ điều kiện để tự truyền giới, phát triển Tăng đoàn trên đất Việt.
4Bốn dòng truyền thừa của Phật giáo Nam tông Kinh là gì? Vì sao nói chúng “chung một cội”?
Campuchia (HT. Hộ Tông), Thái Lan (HT. Tịnh Sự), Miến Điện (HT. Hộ Nhẫn), Tích Lan (Thiền sư Hộ Pháp, đệ tử HT. Nārada). Chung một cội vì Theravāda ở Campuchia, Thái Lan, Miến Điện đều nhận dòng truyền thừa từ Mahāvihāra của Tích Lan (Chương 5 – 6).
5Nêu các mốc tổ chức chính của hệ phái từ 1955 đến 1981.
21/10/1955: Hội PGNT VN Trung phần (Đà Nẵng); 14/5/1957: Hội PGNT VN (Sài Gòn); 1957: Giáo hội Tăng già Nguyên thủy VN (duyệt 18/12/1957; Tăng thống Hộ Tông; một nguồn ghi 1958); 1964: tham gia GHPGVNTN; 1969: rút ra; 7/11/1981: cùng 8 tổ chức, hệ phái khác thành lập GHPGVN.
6Bài học đã nêu những chỗ nào các nguồn ghi khác nhau? Bạn xử lý thế nào?
(1) Năm kết giới Sīmā: 15/4/1940 (đa số) hay 1939; (2) “HT. Hộ Tông” có mặt ở lễ kết giới tháng 4/1940 trong khi Ngài xuất gia tháng 10/1940; (3) Giáo hội thành lập 1957 hay 1958; (4) số chùa, tu sĩ: 106 chùa / 1.654 tu sĩ (2019) hay 145 chùa / hơn 900 (2020); (5) cách đếm “ba” hay “bốn” vị Tăng đầu tiên. Cách xử lý: theo số đông nguồn và nguồn gần sự kiện, nêu cả hai kèm tên nguồn, tìm cách giải thích hợp lý (danh xưng muộn, cách tính khác) chứ không chọn bừa.
Tài liệu tham khảo
Tài liệu đã đọc trực tiếp
- Thích Nhật Từ (chủ biên), Phật giáo Nam tông tại vùng Nam Bộ, NXB Hồng Đức, 2021 — bản PDF. Các bài: Tỳ-khưu Định Phúc, “Phật giáo Nam tông (Theravāda) Kinh Việt Nam: quá trình du nhập và phát triển” (tr. 17 – 26); TT.ThS. Thích Giác Trí, “Khái lược lịch sử Phật giáo Nam tông Kinh Việt Nam” (tr. 27 – 40); ThS. Đỗ Cao Phúc, “Trí thức Nam bộ bước đầu truyền bá Phật giáo Nam tông vào vùng đất Sài Gòn – Gia Định” (tr. 41 – 54); ThS. Nguyễn Ngọc Hùng & TS. Nguyễn Thị Thanh Mai, “Hệ thống tổ chức Phật giáo Nguyên thủy (tộc người Kinh) Việt Nam (1938 – 1963)” (tr. 55 – 70); ThS. Lê Lâm Huỳnh Thông, “Sự du nhập Phật giáo Theravada từ Campuchia” (tr. 129 – 144).
Tài liệu được dẫn lại
- Thiện Hậu, Phật giáo Nam tông Kinh Việt Nam (1938 – 1963), NXB Hồng Đức, 2017 — nguồn chính của nhiều bài trong kỷ yếu.
- Thiện Minh, Giáo trình Lược sử Phật giáo Nam tông Việt Nam, NXB Hồng Đức; Nam tông ký sự, NXB Hồng Đức, 2019.
- Nguyễn Văn Hiểu, Tiểu sử cố Hội trưởng Tổng hội cư sĩ Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, bản viết tay, 1979 — dẫn theo Nguyễn Ngọc Hùng & Nguyễn Thị Thanh Mai.
- Điều lệ Hội Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam Trung phần (1955); Nghị định số 3716/NĐ/PC (21/10/1955) — văn bản gốc lưu ở chùa Tam Bảo, Đà Nẵng, dẫn theo Nguyễn Ngọc Hùng & Nguyễn Thị Thanh Mai.
- Thích Đồng Bổn (chủ biên), Tiểu sử Danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, NXB Tôn giáo.
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Báo cáo sơ kết công tác Phật sự 6 tháng đầu năm 2019 — dẫn theo Định Phúc, về số liệu 2019.

